Light switch for Neurons


Moving microfluidics from the lab bench to the factory floor

As the United States seeks to reinvigorate its job market and move past economic recession, MIT News examines manufacturing’s role in the country’s economic future through this series on work at the Institute around manufacturing.


ImageThe Center for Polymer Microfabrication is designing processes for manufacturing microfluidic chips. Pictured here is a chip fabricated by the center’s tailor-made production machines.
Photo: Melinda Hale

In the not-too-distant future, plastic chips the size of flash cards may quickly and accurately diagnose diseases such as AIDS and cancer, as well as detect toxins and pathogens in the environment. Such lab-on-a-chip technology — known as microfluidics — works by flowing fluid such as blood through microscopic channels etched into a polymer’s surface. Scientists have devised ways to manipulate the flow at micro- and nanoscales to detect certain molecules or markers that signal disease.

Microfluidic devices have the potential to be fast, cheap and portable diagnostic tools. But for the most part, the technology hasn’t yet made it to the marketplace. While scientists have made successful prototypes in the laboratory, microfluidic devices — particularly for clinical use — have yet to be manufactured on a wider scale.

MIT’s David Hardt is working to move microfluidics from the lab to the factory. Hardt heads the Center for Polymer Microfabrication — a multidisciplinary research group funded by the Singapore-MIT Alliance — which is designing manufacturing processes for microfluidics from the ground up. The group is analyzing the behavior of polymers under factory conditions, building new tools and machines to make polymer-based chips at production levels, and designing quality-control processes to check a chip’s integrity at submicron scales — all while minimizing the cost of manufacturing.

“These are devices that people want to make by the millions, for a few pennies each,” says Hardt, the Ralph E. and Eloise F. Cross Professor of Mechanical Engineering at MIT. “The material cost is close to zero, there’s not enough plastic here to send a bill for. So you have to get the manufacturing cost down.”


Hardt and his colleagues found that in making microfluidic chips, many research groups and startups have adopted equipment mainly from the semiconductor industry. Hardt says this equipment — such as nano-indenting and bonding machines — is incredibly expensive, and was never designed to work on polymer-based materials. Instead, Hardt’s team looked for ways to design cheaper equipment that’s better suited to work with polymers.

The group focused on an imprinting technique called microembossing, in which a polymer is heated, then stamped with a pattern of tiny channels. In experiments with existing machines, the researchers discovered a flaw in the embossing process: When they tried to disengage the stamping tool from the cooled chip, much of the plastic ripped out with it.

To prevent embossing failures in a manufacturing setting, the team studied the interactions between the cooling polymer and the embossing tool, measuring the mechanical forces between the two. The researchers then used the measurements to build embossing machines specifically designed to minimize polymer “stickiness.” In experiments, the group found that the machines fabricated chips quickly and accurately, “at very low cost,” Hardt says. “In many cases it makes sense to build your own equipment for the task at hand,” he adds.

In addition to building microfluidic equipment, Hardt and his team are coming up with innovative quality-control techniques. Unlike automobile parts on an assembly line that can be quickly inspected with the naked eye, microfluidic chips carry tiny features, some of which can only be seen with a high-resolution microscope. Checking every feature on even one chip is a time-intensive exercise.

Hardt and his colleagues came up with a fast and reliable way to gauge the “health” of a chip’s production process. Instead of checking whether every channel on a chip has been embossed, the group added an extra feature — a tiny X — to the chip pattern. They designed the feature to be more difficult to emboss than the rest of the chip. Hardt says how sharply the X is stamped is a good indication of whether the rest of the chip has been rendered accurately. 

Jumpstarting an industry

The group’s ultimate goal is to change how manufacturing is done. Typically, an industry builds up its production processes gradually, making adjustments and improvements over time. Hardt says the semiconductor industry is a prime example of manufacturing’s iterative process.

“Now what they do in manufacturing is impossibly difficult, but it’s been a series of small incremental improvements over years,” Hardt says. “We’re trying to jumpstart that and not wait until industry identifies all these problems when they’re trying to make a product.”

The group is now investigating ways to design a “self-correcting factory” in which products are automatically tested. If the product doesn’t work, Hardt envisions the manufacturing process changing in response, adjusting settings on machines to correct the process. For example, the team is looking for ways to evaluate how fluid flows through a manufactured chip. The point at which two fluids mix within a chip should be exactly the same in every chip produced. If that mixing point drifts from chip to chip, Hardt and his colleagues have developed algorithms that adjust equipment to correct the drift.

Holger Becker, co-founder of Microfluidic ChipShop, a lab-on-a-chip production company in Jena, Germany, says the center’s research plays an important role in understanding the different processes involved in large-scale production of microfluidics.

“Most of the academic work in microfluidics concentrates on applications, and unfortunately only very few concentrate on the actual manufacturing technologies suited for industrialization,” Becker says. “David Hardt’s team takes a very holistic approach looking into all different process steps and the complete manufacturing process instead of individual technologies.”

“We’re at the stage where we’d like industry to know what we’re doing,” Hardt says. “We’ve been sort of laboring in the vineyard for years, and now we have this base, and it could get to the point where we’re ahead of the group.”

By MIT News

Institute faculty share prestigious neuroscience prize Ed Boyden and Feng Zhang awarded the Perl/UNC Neuroscience Prize

MIT faculty members Ed Boyden and Feng Zhang, along with Karl Deisseroth of Stanford University, have been awarded the Perl/UNC Neuroscience Prize for developing a way to control brain activity using light. The Perl prize carries a $10,000 award and is given annually to recognize a seminal achievement in neuroscience. Four of the 12 past recipients were later awarded Nobel Prizes.

Boyden, Zhang and Deisseroth share the 2012 Perl prize for developing a technology known as “optogenetics,” in which neurons are genetically engineered to respond to light. This allows researchers to control the activity of specific cell types with great precision, and to probe the brain’s intricate circuits in ways that would have been unimaginable a few years ago. Optogenetics has already led to major advances in basic neuroscience, and the method has great promise for understanding and potentially for treating a wide range of brain disorders.

Boyden is a faculty member in the MIT Media Lab and an investigator at the McGovern Institute for Brain Research. Zhang is also a McGovern Investigator, with a joint appointment in the Department of Brain and Cognitive Sciences and at the Broad Institute.

Zhang and Boyden will deliver their prize lectures at the University of North Carolina at Chapel Hill on Sept. 20.

By MIT news

Những điều thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của Andre Geim ( Noble Physics 2010)

Tìm hiểu về nhân vật Andre Geim cũng có nhiều điều thú vị và đáng học hỏi. Ví dụ như ông ấy tốt nghiệp PhD năm 1987, sau 5 năm tại viện vật lý chất rắn của Nga, với kết quả là 5 bài báo. Nhưng cả 5 bài báo đó và thesis của ông đều không được ai cite cả, chỉ đồng tác giả trích dấn 2 lần. Sau thất bại về việc chọn đề tại và làm trong một lĩnh vực vật lý đã bão hòa, Andre Geim nhận thấy cần phải thảy đổi, tách rời khỏi giáo sư hướng dẫn, chuyển sang một lĩnh vực vật lý mới, liên quan đến màng kim loại và siêu dẫn. Thời gian hậu tiến sĩ của ông ở viện vi điện tử, cũng thuộc Nga và đại học Bath những năm đầu 90 có lẽ là bước ngoặc trong sự nghiệp của mình. Chính từ thất bại trong quá trình học PhD, ông nhận thấy cần phải thiết lập những thí nghiệm mới, thay vị quanh quẩn tìm những hiện tượng lạ dựa trên các thí nghiệm đã có sẵn. Thời gian sau tốt nghiệp tiến sĩ của ông cũng chả sáng sủa gì, ở độ tuổi 33 với chỉ số H-index bằng 1, nên ông chỉ tìm cơ hội postdoc ở những trung tâm vừa và nhỏ ngoài Nga. Tuy vậy việc đến nhiều trung tâm khác nhau như Nottingham, Copenhagen, Bath và trở lại Nottingham, đã giúp ông tiếp cận với nhiều nhánh khác nhau của vật lý, như nghiên cứu về hệ khí electron 2 chiều, hay các điểm quantum point, hiện tượng chui hầm lượng tử hay hiệu ứng Hall lượng tử. Đây cũng là giai đoạn ông được tiếp xúc với các kĩ thuật như molecular beam epitaxy, hay electron beam lithography.


Sau 4 năm postdoc, ông được nhận chân phó giáo sư tại đại học Nijmegen của Hà Lan. Tuy đây không phải là trường lớn của Hà Lan nhưng điều kiện và môi trường khoa học vẫn tốt hơn so với Nga. Lĩnh vực ông nghiên cứu khi đó là mesoscopic superconductivity, ông bắt đầu xây dựng hệ thí nghiệm mới, và cũng có kết quả tốt được đăng trên Nature và Physical Review Letters. Vợ của ông là tiến sĩ vật lý, nhưng không xin được việc tại Hà Lan giai đoạn đó, nên phần lớn ở nhà chăm con gái và giúp chồng phân tích số liệu. Cũng phải nói Hà Lan và Đức là nơi có các trung tâm nghiên cứu về từ/từ giảo khổng lồ/siêu dẫn vào loại nhất nhì trên thế giới. Đại học Nijmegen của ông tuy không nổi tiếng nhưng lại là nơi có phòng thí nghiệm từ trường có cường độ lên tới 20 T, khá cạnh tranh trong giai đoạn đó ( từ trường trái đất vào khoảng 0.00005 Tesla). Trong khi các thí nghiệm của ông thường chỉ vào khoảng 0.01 T, và giá điện cũng cao nên giai đoạn đầu về trường ông cũng không sử dụng phòng thí nghiệm hết công suất.


Trước và sau quá trình làm postdoc, ông cũng đã thử một vài thí nghiệm liên quan đến từ tính của nước, nhưng kết quả không được sáng sủa. Nhưng khi được sở hữu một phòng thí nghiệm có từ trường lên đến 20 T, đó là lúc các ý tưởng của ông được lật lại. Và trong một buổi tối thứ 6, ông đã bật máy từ lên tới công suất cực đại rồi ” nghịch dại”, té nước vào thiết bị để thỏa chí tò mò. Thông thường, đây là một cách nghịch rất dại, và chả một vị phó giáo sư nào lại làm thí nghiệm thiếu chuyên nghiệp như vậy cả. Quan sát thí thấy nước không rơi xuống dưới sàn nhà mà đọng lại lơ lửng trong máy. Từ tính của nước vào khoảng 1 tỷ lần nhỏ hơn so với sắt nhưng với từ trường lên đến 20T đã giúp các giọt nước được lơ lửng trong máy, thắng được lực hút của trái đất. Các giọt nước có đường kính lên đến 5 cm được lơ lửng giữa ( không trung) thiết bị, đó là lúc nhiều suy nghĩ hiếu kì khác của ông được nảy sinh. Thí nghiệm được nhận giải 2000 Ig Nobel Prize ( Nobel khờ khạo), cũng bắt nguồn từ đó, tưởng tượng nếu giọt nước lớn tới vài cm lơ lửng được thí nó cũng có thể giúp cho nhiều loại vật, côn trùng và ếch nhái lơ lửng trong chân không mà không cần đến luyện tập khí công. Cũng phải nói, để giải thích hiện tượng lơ lửng của nước kia, ông đã cần đến một bậc thầy vật lý khác là Sir Micheal Berry ( đại học Bristol).


Nghiên cứu sinh đầu tiên của Andre Geim là Kostya Novoselov, tham gia vào nhóm của ông năm 1999. Trong giai đoạn từ lúc tốt nghiệp tiến sĩ đến năm 1999, ông đã thử rất nhiều thí nghiệm tinh nghịch khác nhau, tổng kết lại cũng vào khoảng trên 20 thí nghiệm, mà phần lớn là thất bại, nhưng có một vài thí nghiệm khá thú vị, kiểu như chú ếch bay ở trên, đến màng dính thạch thùng gecko, và tất nhiên phải kể đến graphene ( giúp ông và học trò nhận giải Nobel năm vừa rồi).


Nghiên cứu về graphene và con đường dẫn tới giải Nobel vật lý của hai thầy trò chỉ bắt đầu vào năm 2000, khi ông đến làm việc tại đại học Manchester với vị trí full professor. Khi đó ông có trong tay hơn 4 bài trên Nature và Physical Review Letter, liên quan phần nhiền đến hiện tượng siêu dẫn mesoscopic, và levitation. Với profile như trên ông cũng có được một số trung tâm danh giá mời về làm việc nhưng việc chọn U of M phần nhiều vì tại đây vợ ông có cơ hội được làm việc academic cùng với ông. Giai đoạn 3 năm đầu tại U of M ông đã xây dựng mọi thứ từ đầu, với số tại trợ ít ỏi, nhưng tăng dần mỗi năm, và kết quả thu được cũng khá đáng nể, hơn 5 bài trên Nature, Nature Materials và PRL. Tài trợ của EPSRC cho nhóm của ông lên tới gần £2 M trong giai đoạn đó, nên khá ông đã xây dựng được một nhóm khá productive về lĩnh vực Mesocience, nanotechnology.


Andre Geim là người có nhiều ý tưởng nhưng chưa mạo hiểm đến nỗi đưa các ý tưởng đó cho lớp nghiên cứu sinh của mình tại Manchester. Ba hướng nghiên cứu của ông trong giai đoạn này là về điện tử kim loại, ống nano carbon và hợp chất graphite ( tiền thân của graphene, nhiều lớp nguyên tử ).Cậu học trò người Trung Quốc đầu tiên của ông tại U of M là Da Jiang tốt nghiệp sớm quá, trước khi những ý tưởng hay nhất về graphene của ông được thực hiện. Giai đoạn đầu Da Jiang cũng làm về graphite ( nhiều lớp nguyên tử ), nhưng kết quả không được như ý, màng graphite với độ dầy vài chục micro và không có các đặc tính nổi bật. Trong giai đoạn làm việc với nhóm của Oleg Shklyarevskii,thuộc Kharkov, Ukraine, chuyên gia về lĩnh vực scanning tunneling microscopy. Thông thường các tệp dính chỉ dùng để bạo vễ vác mẫu thí nghiệm, sau đó bỏ đi, trong trường hợp này là HOPG, ( một loại graphite), nhưng vì tính tò mò nên Andre Geim đã kiểm tra xem có gì trên lớp dính đó. Kết quả ngạc nhiên đó là các lớp màng mỏng hơn nhiều so với những gì mà học trò của ông là Da Jiang hì hục làm bằng máy trước đó. Đây cũng chính là lúc ông bắt đầu dồn sức vào hướng nghiên cứu thứ ba ( hợp chất graphite). Khi còn là nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, ông làm việc 100 tiếng một tuần, nhưng nó không thấm vào đâu so với giai đoạn này, cả nhóm của ông làm việc 24 x 7 , trong vài tháng để tạo ra hơn 50 mẫu thiết bị khác nhau. Cuối năm 2003, ông bắt đầu gửi kết quả đầu tiên dưới dạng manuscript tới Nature, và bị reject. Ông điều chỉnh lại và cung cấp số liệu tốt hơn, nhưng cũng vẫn bị reject với lý do ” not constitute a sufficient scienctific advance”. Về sau ông gửi kết quả lên Science và được chấp nhận, đây cũng là lúc cộng động biết đến kết quả của ông một cách rộng rãi, và giải thưởng Nobel 2010 ghi nhận công trinh và kết quả từ bài báo trên Science kia.


Tóm lại, có vài điểm thú vị về nhân vật Andre Geim này, ví dụ như


1. Đề tại trong PhD và kết quả trong giai đoạn PhD của ông không có gì nổi bật, nếu không nói là tối, với 5 bài báo mà chỉ có 2 lần được trích dẫn.


2. Giai đoạn làm postdoc của ông thường làm việc 100 tiếng mỗi tuần, di chuyển tới 4 trung tâm khác nhau, sau 4 năm mới có được một ví trí cố định ở một trường nho nhỏ của Hà Lan.


3. Ông là người khá táo bạo và hay nghịch dại, trong vòng vài năm mà làm hơn 20 thí nghiệm ” linh tinh ” khác nhau. Các thí nghiệm này đều ngắn hạn, chỉ vài tháng nhưng ở nhiều hệ vật lý khác nhau.


4. Ông là người sáng tạo và làm việc khá productive, trong 6 tháng ngắn ngủi ở Nottingham mà cũng có 2 bài trên PRL.


5. Sau quá trình postdoc có kết quả tốt trên Nature, PRL, được một số trung tâm danh tiếng mời về nhưng ông chọn Manchester U(niversity) vì… thương vợ.


6. Quan điểm và cách làm việc của ông là nên thử nhiều lĩnh vực khách nhau, thay vì tìm các hiện tượng lạ trong hệ vật lý có sẵn thì xây dựng các hệ vật lý và thí nghiệm mới, tuy mạo hiểm nhưng kết quả đem lại sẽ có phần reward hơn.


7. P/S ” Đừng nghịch dại té nước vào thiết bị thí nghiệm như ông đã làm “



By VietPhD

Phát minh vĩ đại của nhà khoa học là diễn viên Hollywood

Hedy Lamarr (9/11/1913-19/1/2000), không chỉ là một ngôi sao Hollywood, một trong những người phụ nữ đẹp nhất thế giới mà cô còn là một nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực công nghệ viễn thông hiện đại.

Tài năng sớm tỏa sáng

Lamarr là người con gái duy nhất trong một gia đình gốc Do Thái về sau cải đạo theo Công giáo, sinh ra tại Vienna, Áo. Mẹ là nghệ sĩ dương cầm, còn cha là một giám đốc ngân hàng. Nhưng sau đó cha cô đã mất trong một vụ thảm sát.

Cô theo học múa ba lê và piano từ năm 10 tuổi. Chằng bao lâu cô gái tuổi teen Hedy Lamarr đã đóng vai chính trong các bộ phim của Đức Quốc xã cùng với các diễn viên nổi tiếng Heinz Rühmann và Hans Moser.


Nhà khoa học đẹp
Nhà khoa học đồng thời là diẽn viên Hollywood

Sau bộ phim tai tiếng Gustav Machatý Ecstasy, một bộ phim Tiệp Khắc ở Prague, mà Hedy Lamarr đóng vai một người vợ trẻ yêu chồng già cuồng nhiệt với các cảnh quay chạy khỏa thân trong rừng, cô dường như càng được biết đến nhiều hơn.

Sau khi sang Mỹ, cô đã ký hợp đồng và trở thành một ngôi sao Hollywood có tầm cỡ trong thời đại hoàng kim của hãng điện ảnh MGM và tham gia vai diễn trong nhiều bộ phim cực kỳ ăn khách.

Cuộc đời lắm truân chuyên

Hedy Lamarr kết hôn khá sớm vào năm 1933, lúc cô mới 19 tuổi, với Friedrich Mandl, một trùm sản xuất vũ khí có trụ sở tại Vienna. Chồng cô thường làm ăn với các nhà độc tài phát xít Đức Quốc xã và Ý như Adolf Hitler và Benito Mussolini. Mandl có tính ghen điên cuồng, thường không muốn cho vợ đi đâu ra ngoài, thậm chí còn ngăn cản sự nghiệp diễn viên của Hedy Lamarr. Cô buộc phải thường đi bên cạnh chồng làm món quà ‘xã giao’ trong những phi vụ làm ăn của Mandl.

Nhân một bữa tiệc, Hedy Lamarr đã cải trang và chốn thoát sang Paris, rồi London và cuối cùng là sang Mỹ vào năm 1938. Qua nhiều năm theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật, cô cảm thấy mệt mỏi, cô quết định thôi không làm người của công chúng và định cư tại Miami Beach, Florida vào năm 1981.

Sau khi ly hôn người chồng ‘trùm vũ khí’, Hedy Lamarr đã kết hôn tới 5 lần nữa, có được 3 người con. Những năm về sau, Lamarr đã dính vào những vụ scandal và bị bắt mấy lần do tội ăn trộm đồ. Cô qua đời vào năm 2000.

Nhưng…là một thiên tài khoa học

Trong những lần đi cùng với Friedrich Mandl, qua những lần nghe trao đổi về buôn bán vũ khí, Hedy Lamarr đã đặc biệt quan tâm tới ngư lôi, nhất là việc điều khiển ngư lôi. Hedy Lamarr đã trao đổi ý tưởng của mình với một người bạn là nhà soạn nhạc George Antheil, đồng thời là hàng xóm của Hedy.

Sau khi George Antheil phát hiện ra cách chơi nhiều đàn Piano cùng một lúc, Hedy Lamarr đã cùng với ông vận dụng kỹ thuật chơi đàn sang điều khiển ngư lôi. Thay vì thay đổi phím đàn, giờ đây cùng lúc thay đổi tần số vô tuyến của hệ thống điều khiển, như vậy quân địch không thể phong tỏa, và cùng một lúc có thể điều khiển nhiều ngư lôi từ xa.

Quyến rũ
Vẻ quyến rũ làm say lòng người

Hedy Lamarr và Antheil bắt đầu tìm cách cụ thể hóa ý tưởng của mình và nộp bằng sáng chế về ý tưởng của mình. Sáng chế đã được Hải quân Mỹ sử dụng cho đến năm 1962, khi dùng các tàu quân phong tỏa Cuba.

Đặc biệt, sáng chế Hedy Lamarr và Antheil dựa trên sự thay đổi tần số để điều khiển ngư lôi còn làm tiền đề để phát triển thông tin liên lạc và công nghệ viễn thông được sử dụng cho điện thoại di động, GPS, Wi-Fi ngày nay.



VietPhD là gì ?

Nếu có dịp tiến sĩ Xoáy hỏi giáo sư Xoay VietPhD là gì, không biết giáo sư sẽ trả lời thế nào nhỉ ? Giải thích cho các em cấp 1 hiểu được VietPhD là gì, nếu dịch theo nghĩa tiếng Anh sang tiếng Việt thì đúng, nhưng chưa chắc đã dễ hiểu nhỉ ? Vậy để mình thử gợi ý xem sao nhé ?

V:VIẾT, viết rất nhiều. Trước khi đi học thì chuẩn bị một đống hồ sơ cá nhân, ý tưởng nghiên cứu, xin trợ cấp, học bổng. Khi được nhận thì viết báo cáo mỗi kì, trong quá trình 5 năm học, không viết báo khoa học, không viết luận văn, chắc không thể trở thành tiến sĩ.

I:ÍT, ít thời gian, ít tiền bạc, ít em yêu, ít anh yêu. May mắn có học bổng cũng chỉ đù chi phí cá nhân, chẳng ai đi học tiến sĩ lại giầu hơn người đi làm, trong cùng một môi trường công việc cả. Đã vậy, khi có điều kiện về vật chất, thì thời gian lại bó hẹp. Muốn rủ em yêu ra ngoài chơi phải đặt hẹn lên lịch trước vài tuần. Muốn về VN thăm gia đình, chắc cũng chỉ đợi kì nghỉ ngắn hạn. Đến lúc, thời gian và tiến bạc có thể điều chính được, thì tình cảm, em yêu, anh yêu lại chẳng đến, và kết quả là…

E : Ế. Đó là sự thực. Tốt nghiệp tiến sĩ sớm cũng 28-30, 4-5 năm ở nước ngoài, may mắn tìm được ý trung nhân, không thì cũng chỉ dừng lại ở một vài cuộc gặp gỡ ngoài đời, một vài bạn gái bạn trai trên mạng, hay có người dừng lại sau vài cuộc đính hôn ảo trên facebook. Có nhiều lý do cả chủ quan lẫn khách quan để giải thích ” mối quan hệ biến chứng giữa Tiến Sĩ và Ế”, nhưng đó là sự thật. Tiến sĩ có lẽ giống các nhà toàn học, hoặc là lấy vợ rất sớm, hoặc là ở vậy cho đến khi thành giáo sư già. Với các chị em gái, nó còn là phũ phàng hơn nhiều, bởi tuổi xuân thì có hạn, mà bạn trai thì toàn thích các em gái trẻ, kết quả, sau vài năm có đẻ được vài bài báo, hồ sơ học tập lóng lánh bao nhiêu, thì hồ sơ tình ái lại mù mờ bấy nhiêu. Ngoảnh mặt lại, sau 5-7 năm tốt nghiệp, với bằng Tiến sĩ trong tay, còn lại là…

T: THIẾU, thiếu thốn đủ thứ. Người nào theo nghiệp hàn lâm học viện thì thiếu bài báo, kiến thức. Ngoảnh lên thì thấy, sao cùng một môi trường, có người đỉnh cao, Nobel ,Fields, có người xuất hiên trên Nature, Science, có người chỉ mong Trans, mong SCI, có khi phiên bản mở rộng cũng được. Bao giờ cũng thấy trước mắt mình có nhiều ngôi sao, học nhiều, biết nhiều thì lại thấy thiếu nhiều kiến thức. Nếu không may mắn có được công việc hàn lâm, thì ra môi trường công nghiệp, nhưng lúc này thì thiếu tiền. Học 4-5 năm tiến sĩ, hai đến ba cái hậu tiến sĩ, ra ngoài làm công nghiệp nếu không có gì xuất sắc cũng chỉ nhỉnh hơn một chút về lương bổng so với thời ki tốt nghiệp master.Mặc dù có nhiều lời khuyên, không cần theo postdoc, nếu đi làm thì tấm bẳng master cũng đủ, vậy mà có mấy ai nghe, đã ra nước ngoài thì…

P: PHẢI cố gắng học tập, Phải phấn đấu, Phải kiên trì, Phải tồn tại, để vượt qua thời kì 4-5 năm, Phải “sản xuất” papers, bài báo, sau cùng là được cấp bằng tiến sĩ. Nếu nghĩ nhiều lúc thì thấy hãnh diện, danh dự cho bản thân, gia đình, nhưng đôi khi cũng thấy nhẹ nhàng, Phù Phiếm. Nếu biết học tiến sĩ mà không có được thay đổi gì, công việc, sự nghiệp, tiền bạc, công danh, không có ích cho gia đình và xã hội thì tấm bằng đó cũng chỉ để treo tường, là lãng Phí phải không vậy nhỉ ? Chắc không lãng Phí đâu, vì trong quảng thời gian học tập đó, Phải đấu tranh tư tưởng, Phải tích cực, nếu không thì sẽ…

H: HÂM, đó là hình ảnh của những anh chàng bù đầu vào sách vợ, bị trầm cảm trong quá trình học tập mà thiếu thốn, không cân bằng được cuộc sống. Có những người tốt nghiệp rồi mới biết là mình bị Hâm, đi chơi với bạn gái, thay vì nhắc đến những gì gần gũi, nói những câu chuyện nhẹ nhàng, cánh bí cành đào, thì lại mở sách…hấp dẫn lượng tử, lý thuyết dây, không gian 11 chiều, rồi đến bài báo, tạp chí và Ai Ép (impact factor). Híc, lúc cầm tay bạn gái rồi thì còn hỏi Ai Ép làm gì nữa, chẳng phải chỉ cần Anh Ép là đủ hay sao nhỉ ? Nếu anh không biết ép em thì có lẽ cuộc Hẹn đó chấm Hết. Em bỏ đi với Hờn giận, còn anh trở về với…

D: DANG DỞ. Tiến sĩ có thể là bằng học cao nhất hiện tại, nhưng kiến thức thu được trong 5-7 năm đi học cũng chỉ có hạn. Học tập và làm nghiên cứu là một quá trình liên tục, cập nhật không ngừng. Có tiến sĩ thì thấy mình còn dang dở với con đường học tập, kết quả đi là học hậu tiến sĩ. Có những tiến sĩ, giáo sư thấy mình còn dang dở với danh vọng và phấn đấu để có được sự cộng nhận của cộng đồng. Khi trở thành Nobelist, Fields Medalist thì thấy mình vẫn còn…dang dở với trách nhiệm giảng Dậy, hướng Dẫn, xây Dựng, có khi là dang dở với nhiệm vụ Dụ dỗ để có nhiều người biết Dấn thân vào con đường khoa học như mình hơn.

Theo Sipho Vietphd.

A pulsating gut on a chip

A coin-sized device created by a team at Harvard University mimics the structure and physiology of the human intestine by supporting gut microbes and imitating the organ’s rhythmic motion.

Donald Ingber and his colleagues at the Wyss Institute in Boston, Massachusetts, built the chip (pictured) out of a clear polymer. It contains two microscopic fluid channels separated by a porous, flexible membrane. Human gut epithelial cells, which line the gut’s surface, cover the membrane and supported the growth of a common gut bacterium, Lactobacillus rhamnosus. The researchers simulated gut contractions, or peristalsis, by applying suction through two side chambers. In response, the epithelial cells formed folds similar to the finger-like protrusions, or villi, that line the inner intestinal wall.

The gut tissue layer blocked the flow of small molecules between the channels, and this barrier function improved with the presence of the bacteria. The authors say that their device is a better intestinal mimic than cells in static culture and suggest that it could be used for drug screening and toxicity tests.



Nature 483, 376 (22 March 2012) doi:10.1038/483376a

Lab Chip 10.1039/C2LC40074J (2012)