Du học là gì từ góc nhìn của các du học sinh

Du học có nghĩa là mổi buổi sáng thức dậy, cảm giác đầu tiên sẽ là sự cô đơn, rồi tự hỏi mình đang ở đâu và sắp làm gì. Nhìn ra cửa sổ thấy sương lạnh buốt và biết mình có một ngày dài để chiến đấu. Nghe tiếng mình nhỏ nhẹ trong lòng, ráng lên nào, sống vì tương lai. ….

Du học có nghĩa là sẽ đeo balô trên lưng và sách nặng cầm trên tay, bước vào cổng trường và nhớ ngày xưa mình đi học còn vì niềm vui được gặp bạn bè mỗi ngày. Bây giờ mình đi học, cũng vì niềm vui ấy ở thì tương lai..

Du học có nghĩa là sẽ có ngày bật khóc, chỉ còn cảm giác run lên và sự trống rỗngtrong đầu, buồn bã, cô độc và bi quan! Đây đâu phải là mình?

Image

 

Du học có nghĩa là da sẽ trắng. Gió lạnh thổi tan nắng mỏng manh khiến da vàng cũng thành trắng xanh, trắng muốt. Và gió thổi bay cả những gân hồng ngọt ngào của một đất nước xa xôi, thổi khô nước mắt, lạnh tình người và lạnh trái tim.

Du học có nghĩa là một buổi trưa lang thang trên sân trường, ngồi nói chuyện với bạn hay chỉ có mình mình trong thư viện. Tất cả đều không mang cảm giác ĐỦ! Chỉ biết mình đang sống tạm, sống thiếu thốn tình cảm, sống để sau này sẽ được sống ĐỦ!

Du học có nghĩa là cơm trắng ngon hơn hamburger, pizza không bằng bánh mỳ, và pasta hay mì Ý cũng kô sánh được với bát bún gà bát fở bò giản đơn. Đi nhà hàng nhìn 1 menu dài đằng đặc nhưng lại chỉ thấy thèm những món ăn mẹ nấu…

Du học là xa nhà, xa gia đình, xa bè bạn, làm gì cũng lủi thủi tự thân 1 mình. Ốm nằm vật ra cũng tự cố bò dậy mà ăn, mà uống thuốc. Là những chiều đông run cầm cập cầm đeo ba lô, cầm ổ bánh mỳ lê lết hàng giờ đồng hồ đến bến bus bắt xe đi học. Vừa ngồi chờ xe vừa run vừa xoa tay cho ấm, vừa gặm bánh cho qua bữa.

Du học là những tối làm research trong lib đến 10h đêm, ko còn bus phải 1 mình quốc bộ gần 3 miles về nhà. Chỉ biết cắm cúi mà đi, vớ vẩn thằng nào nó nhảy ra,thấy chướng mắt lại đòm cái là bay thẳng lên mây mà gẩy đàn.

Du học là cái cảnh nhìn nhà nhà người người cùng nhau xum họp, cùng nhau vui vầy những dịp lễ tết. Còn mình, làm trầy bửa kiếm tiền, tối mịt trở về tự mình chào mình trong căn phòng bé tý chưa đầy 6m vuông, tự celebrate bằng 1 gói chips, 1 chai Fanta, 1 quyển truyện vác từ VN sang và tráng miệng bằng nỗi nhớ quê nhà da diết, nhớ đến muốn gào lên chạy ngay về…..

Du học có nghĩa là sẽ phải nhìn theo cái vẫy tay xa xăm của người thân sau lớp kiếng ngăn cách ở sân bay, là nụ cười và lời chúc của bạn tiễn đưa, là nước mắt của mình sau lớp chăn bông dầy, là câu hứa năm sau gặp lại bật ra trên những đôi môi run, là thời gian rất dài…

Du học có nghĩa là tức tối khi muốn viết câu văn hay mà từ vựng lại nằm đâu đó quá xa trong cuốn từ điển dày cộm, là mệt mỏi khi quyển sách lịch sử quá dày mà mắt đã đỏ vì thức khuya, là ngu ngơ tập phát âm thêm một thứ ngôn ngữ khác nữa ngoài tiếng Anh và tiếng Việt, là lóng ngóng thức cả đêm để hoàn thành một bài assigment, là mới toanh trong 1 ngôi trường và những luật lệ.

Du học là cảm giác hụt hẫng mỗi khi có chuyện gì rất vui, muốn gào thét đùa vui nhưng rồi chợt nhận ra quanh mình hình như ko ai care cả….

Du học là phải vững vàng…muốn khóc cũng ko đc khóc vì mình phải mạnh mẽ.

Du học là khó thở khi phải nhận cái áp lực, expectations từ mọi ng vì mang tiếng đi xa học mà lại ko làm đc cái j thì thật là xấu hổ.

Du học là khó chịu khi bị gọi “… kiều”… có thể chỉ là trêu đùa có thể là đá xoáy… nhưng cho dù là í j đi nữa thì thực lòng, chả thích bị gọi thế chút nào, vì khi du học là khi cảm thấy mình tự hào về nước mình nhất, tự hào đc là công dân VN nhất… và chỉ muốn đc gọi như bình thường… là Vnese mà thôi.

Du học là buồn mỗi khi bị nói là tây hóa, đua đòi bắt chước theo người ta trong khi thực chất đâu phải vậy, mà có tây hóa thì chẳng cần phải du học, ở nhà cũng tây được.

Du học là ko đc cảm thông khi chẳng may nói chuyện cứ bị xen vài tiếng ngoại ngữ vào, bị nói là quên tiếng mẹ đẻ khi mà thực chất đâu có muốn thế. Cả năm trời thèm khát đc nói tiếng Việt mà khó làm sao, thay vào đó phải dùng, phải luyện cái thứ tiếng nước ngoài để học thì tất nhiên sẽ bị thành thói quen và cần thời jan để chỉnh khi về thăm nhà chứ :-s

Du học là sự cố gắng từng ngày, đếm từng ngày để đc về thăm nhà…

Du học là đắn đo mỗi khi muốn về mà lại xót vì chi phí khá cao….nếu cố gắng chịu thì có thể tiết kiệm được vào tiền học nhưng lại rất nhớ nhà và muốn được ở bên mọi người ….

Du học… lớn nhất là phải hi sinh tình cảm, tình yêu(nghĩa rộng chứ ko chỉ yêu đương)… và luôn phải tự hướng tới tương lai, luôn tự bảo mình phải cố rồi tương lai sẽ được đền đáp để mà cố gắng hơn….

Du học có nghĩa là lớn lên. Cầm dao xắt hành và ôm đũa chiên cơm, nặn bột làm bánh bao và cookies. Lấy giấy tờ và đôi co vì một quyền lợi, nắm tương lai trong tay và tự đóng khuôn để đúc chính mình, rớt vào một mặt khác của trái đất, sẽ nhận thấy những điều mình hiểu lâu nay không đơn giản như mình hiểu, sợ hãi trước cuộc đời nhưng nôn nóng muốn bước vào đưong đầu với nó.

Du học có nghĩa là sẽ lo lắng khi một người bạn đóng cửa blog hay không trả lời message của mình trong Yahoo Messenger. Thấy bạn mình xa và mình thì bất lực.. Và yên tâm khi cánh cửa lại hé mở, thở phào, uh bạn không sao, mỉm cười, lại được đọc về bạn nữa rồi, nháy mắt, bọn mình đâu có xa…

Du học là phải nén nhịn mỗi khi rất buồn, muốn gọi ngay cho người thân để tâm sự nhưng phải nén lại vì ko muốn để ai phải lo lắng cho mình, và phí gọi về thì cũng chả rẻ gì.

Du học có nghĩa là sẽ chỉ được nhìn bố mẹ qua khung webcam mờ nhỏ xíu trên màn ảnh vi tính và nghe mẹ cười hiền, mấp máy con đừng lo trong điện thoại. Nhưng sau lưng, bố mẹ đang phải vật lộn với những núi đá nặng trịch của cuộc đời, còn trước mặt mình lại là tương lai thênh thang mở rộng. Má ấm lên giọt nước mắt, vì tình yêu bao la có nghĩa là hy sinh với nụ cười trên môi..

Du học có nghĩa là tự hào. Tự hào thấy mình thay đổi, tự hào thấy mình đang lớn, tự hào vì mình được yêu thương.

Du học có nghĩa là tự hứa nhiều lắm. Tự hứa với mình, với người ta, với gia đình, với bạn bè. Tự hứa không được lãng phí những gì đã hy sinh. Tự hứa và tự ráng hoàn thành lời hứa.

Du học sướng???? Có ai hiểu chăng nỗi lòng của những ng xa quê để HỌC…..

Du học có nghĩa là đi XA học. Là đi học ở xa. Là đi học ở rất xa. Là đi học ở rất rất xa…

Và, du học là nhiều khi muốn buông tay vì tất cả những feelings trên nhưng vẫn phải nắm chặt và tiếp tục bước…..

Tác giả: Kiwi Đặng – DHS Mỹ Texas

Clot-busting technology goes straight to work

Clot-busting technology goes straight to work

Could dissolve blood clots before they cause stroke, embolisms, death

By Twig Mowatt

Wyss Institute Communications

Thursday, July 5, 2012

Researchers at the Wyss Institute for Biologically Inspired Engineering at Harvard have developed a novel biomimetic strategy that delivers life-saving nanotherapeutics directly to obstructed blood vessels, dissolving blood clots before they cause serious damage or even death. This new approach enables thrombus dissolution while using only a fraction of the drug dose normally required, thereby minimizing bleeding side effects that currently limit widespread use of clot-busting drugs.

The research findings, which were published online today in the journal Science, have significant implications for treating major causes of death, such as heart attack, stroke, and pulmonary embolism, that are caused by acute vascular blockage by blood thrombi.

The inspiration for the targeted vascular nanotherapeutic approach came from the way in which normal blood platelets rapidly adhere to the lining of narrowed vessels, contributing to the development of atherosclerotic plaques. When vessels narrow, high shear stresses provide a physical cue for circulating platelets to stick to the vessel wall selectively in these regions. The vascular nanotherapeutic is similarly about the size of a platelet, but it is an aggregate of biodegradable nanoparticles that have been coated with tissue plasminogen activator (tPA), a clot-busting drug. Much like when a wet ball of sand breaks up into individual grains when it is sheared between two hands, the aggregates selectively dissociate and release tPA-coated nanoparticles that bind to clots and degrade them when they sense high shear stress in regions of vascular narrowing, such as those caused by blood clot formation.

Disruption of normal blood flow to the heart, lung, and brain due to thrombosis is one of the leading causes of death and long-term adult disability in the developing world. Today, patients with pulmonary embolism, strokes, heart attacks, and other types of acute thrombosis leading to near-complete vascular occlusion, are most frequently treated in an acute care hospital setting using systemic dosages of powerful clot-dissolving drugs. Because these drugs can cause severe and often fatal bleeding as they circulate freely throughout the body, the size of the dosage given to any patient is limited because efficacy must be balanced against risk.

The new shear-activated nanotherapeutic has the potential to overcome these efficacy limitations. By targeting and concentrating the drug at the precise site of the blood vessel obstruction, the Wyss team has been able to achieve improved survival in mice with occluded lung vessels with less than 1/50th of the normal therapeutic dose, which should translate into fewer side effects and greater safety. This raises the possibility that, in the future, an emergency technician might be able to immediately administer this nanotherapeutic to anyone suspected of having a life-threatening blood clot in a vital organ before the patient even reached the hospital.

The interdisciplinary and inter-institutional collaborative research team, which was led by Wyss founding Director Donald Ingber and Wyss Technology Development Fellow Netanel Korin, also included Wyss postdoctoral fellow Mathumai Kanapathipillai, as well as Benjamin D. Matthews, Marilena Crescente, Alexander Brill, Tadanori Mammoto, Kaustabh Ghosh, Samuel Jurek, Sidi A. Bencherif, Deen Bhatta, Ahmet U. Coskun, Charles L. Feldman, and Denisa D. Wagner from Harvard-affiliated Brigham and Women’s Hospital, Children’s Hospital Boston, Harvard Medical School, the Harvard School of Engineering and Applied Sciences (SEAS), and Northeastern University. Ingber is also the Judah Folkman Professor of Vascular Biology at Harvard Medical School and Children’s Hospital Boston and professor of bioengineering at SEAS.

Commenting on the work, Ingber noted that “the vascular nanotherapeutic we developed that selectively becomes activated in regions of high shear stress, much like living platelets do, is a wonderful example of how we at the Wyss Institute take inspiration from biology, and how biomimetic strategies can lead to new and unexpected solutions to age-old problems that existing technologies can’t address.”

Cảnh Đẹp Quảng Ngãi

Không biết tự bao giờ, dân gian truyền tụng người này sang người khác Quảng Ngãi có 12 cảnh đẹp say đắm lòng người và hùng vĩ nhưng mà chưa ai thấy được như miêu tả.
Theo tài liệu,vào giữa thế kỷ XVIII, khi đến trấn nhậm Quảng Ngãi, Nguyễn Cư Trinh đã làm thơ vịnh 10 cảnh đẹp Quảng Ngãi đó là: Thiên Bút Phê Vân (bút trời vẽ lên mây), Thiên Ấn Niêm Hà (ấn trời đóng trên sông), Long Đầu Hý Thuỷ (đầu rồng giỡn nước), La Hà Thạch Trận (trận đá La Hà), Liên Trì Dục Nguyệt (trăng tắm ao sen), Hà Nhai Vãn Độ (bến đò Hà Nhai buổi chiều tà), Cổ Luỹ Cô Thôn (thôn Cổ Luỹ cô quạnh), An Hải Sa Bàn (mâm cát An Hải), Thạch Bích Tà Dương (chiều tà ở núi Thạch Bích), Vân Phong Dạ Vũ (núi Vân Phong đêm mưa). Về sau các nho sĩ địa phương vịnh thêm 2 cảnh nữa là Vu Sơn Lộc Trường (đàn nai ở núi Vu Sơn) và Thạch Cơ Điếu Tẩu (ông câu cá trên ghềnh).

1. Thiên Ấn niêm hà:



Nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, về phía bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi, núi Thiên Ấn chỉ cao hơn 100m, giống một cái triện (ấn), nhín phía nào   cũng thấy núi có hình thang cân. Núi chỉ cách đầu cầu Trà Khúc chừng 2km về hướng đông, nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Đỉnh núi bằng phẳng, có một khoảng cây cổ thụ bao bọc ngôi chùa cổ, tương truyền được xây dựng từ thời vua Lê và qua nhiều lần trùng tu, còn lại di tích cửa tam quan rêu phong cổ kính. Trong khuôn viên vườn chùa có 7 “viên mộ” của các vị sư tổ trụ trì chùa, có giếng nước sâu gọi là giếng Phật, có quả chuông cổ gọi là Chuông thàn. Ngoài khuôn viên nhà chùa, trên khoảng đất thoáng đãng phía tây có phần mộ của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, người đã gắng bó máu thịt với đất Quảng Ngãi thuở bình sinh.Đường lên Thiên Ấn hình xoắn ốc, quang sườn núi có tranh mọc đầy,”Bao giờ núi Ấn hết tranh, sông Trà hết nước anh đành xa em”Đứng bên hữu ngạn sông Trà nhìn qua, ta có cảm giác như ngọn núi nằm ngay trên mặt sông Trà, nên được người xưa gọi là Thiên Ấn niêm hà (ấn trời đóng trên sông) với niềm tin thiêng liêng vào một vùng đất địa linh sinh nhân kiệt. Xưa Thiên Ấn được xem là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi, chùa Thiên Ấn được xem là một trong những ngôi chùa nổi tiếng cả miền Trung. Năm 1717, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban sắc phong “Thiên Ấn tự”. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), núi được liệt hạng danh sơn và ghi vào tự điển, có sắc phong “Thiên Ấn tự”.Từ trên đỉnh núi Thiên Ấn, tầm mắt có thể thu về một khoảng không gian bao la: xung quanh là những làng mạc, ruộng đồng ngát xanh, dòng Trà Khúc lượn lờ duyên dáng, tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ, đông là mặt biển bao la…
2. Long đầu hý thuỷ

Không xa Thiên Ấn, sát Quốc lộ 1A và ngay cạnh phía bắc cầu Trà Khúc là núi Long Đầu, từ phía đông bắc một dãy đồi thấp mấp mô chạy dài đến đây thì nhô cao lên và đâm vào vực sông Trà Khúc. Vào mùa lũ, nước cuộn xoáy nơi vực sông, người xưa hình dung như là đầu rồng đang giỡn nước, nên gọi là Long Đầu hý thủy. Đồng thời Long Đầu hý thủy còn gắn với câu chuyện vua Nam Chiếu chống Cao Biền. Ngày nay “đầu rồng” đã bị san ủi để làm bến xe, nhà cửa, chợ quán, nguyên gốc hầu như đã biến dạng.Để tạo nên vẻ đẹp của Thiên Ấn niêm hà và Long Đầu hý thủy phải kể đến con sông Trà Khúc.
Trước đây, Thiên Ấn, Long Đầu, sông Trà Khúc với những guồng xe nước, những chiếc thuyền buồm, thuyền chài trên sông, làng mạc ven bờ… đã tạo thành một bức tranh sơn thủy hữu tình nằm ngay ở mé bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi.Hồi đó,nghỉ hè tôi hay theo xe  cha ra bãi cát sông Trà để lấy cát,trong khi mọi người xúc từng xuỗng cát lên xe thì tôi tha hồ chạy nhảy trên bãi cát,trên đó trồng vô số dưa hồng và dưa hấu tha hồ mà ăn.Ngày nay bờ xe nước không còn, Long Đầu đã trở thành phế tích. Thắng Cảnh này đã phần nào mất đi vẻ đẹp vốn có.Từ Thiên Ấn – Long Đầu xuôi theo quốc lộ 24B về hướng đông chừng 15km, ta sẽ bắt gặp một loạt cảnh đẹp mà trước hết là bãi biển Mỹ Khê.

3. Thiên Bút phê vân:

Núi Thiên Bút nằm ở địa phận xã Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi. Núi Thiên Bút cao 60m, hình chóp nón, trên núi nhiều cây, trông xa tựa như ngọn bút lông chỉ lên trời. Về phía đông núi có hòn Nghiên tựa như nghiên mực. Vào buổi chiều tà có dải mây thấp thoáng in bóng đàn nhạn bay qua đỉnh núi, người xưa thường bảo ấy là lúc “Thiên Bút phê vân” (bút trời viết lên mây). Núi tượng trưng cho văn khí của Quảng Ngãi. Hiện nay trên đỉnh núi còn dấu tích một đền tháp Champa cổ. Ngày còn nhỏ,bọn tôi hay lên núi để đào thuốc mồi(từ thời chiến tranh),đem về quấn giấy bạc bao thuốc lá và đốt,khi đốt nó sẽ bay vụt và cháy sáng rất đẹp.

4. Cổ Luỹ cô thôn

Núi Phú Thọ và Cổ Lũy cô thôn nằm ở địa phận xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa. Núi Phú Thọ còn có tên là núi Đá Đen, hay Thạch Sơn, cao 60m, rộng chừng 8 hécta, trên núi là quần thể phế tích cung điện nhà cửa đền tháp và thành quách Champa. Núi có chùa Hang với huyền tích con cọp thần. Đứng trên đỉnh núi có thể phóng tầm mắt bao quát trông về dòng sông Trà hùng vĩ, cửa Đại nên thơ, rừng dừa xanh Cổ Luỹ, đảo Lý Sơn thấp thoáng trong khói sóng biển xanh, phía tây là đồng bằng Quảng Ngãi xanh tít tắp. Nơi này giờ vẫn còn rất nhiều người gốc Hoa sinh sống,chính họ đã tạo nên một số món ngon đặc sản của Quảng Ngãi bây giờ như Kẹo gương( Nổi tiếng là Kẹo gương Thu Xà).Tương truyền Nguyễn Cư Trinh khi trông về xóm Mồ Côi của những người dân chài đơn độc bên cửa Đại đã đặt tên là Cổ Luỹ cô thôn.

5. Liên Trì dục nguyệt

Thuộc thôn Liên Chiểu, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ. Nơi đây có hồ sen rộng, soi bóng núi Xương Rồng ở phía Tây, vào những đêm trăng thanh nên thơ huyền ảo, đi thuyền trên hồ thấy bóng trăng thấp thoáng dưới sen, chìm trong đáy nước nên cổ nhân đặt tên Liên Trì dục nguyệt. Phía bắc hồ là ngôi đền Quan Thánh, có tạc 4 pho tượng cao hơn 3m diễn tả sự tích vào đêm trăng hồn Quan Công bay xuống núi đàm đạo cùng Phổ Tĩnh thiền sư và hoá duyên theo Phật).
Trên nổi hồ mây, dưới đáy mây

6. Hà Nhai Vãn Độ

Bến đò Hà Nhai thuộc xã Tịnh Hà huyện Sơn Tịnh. Ngày trước nơi đây trên bến dưới thuyền tấp nập, những người dân vùng bờ bắc sông Trà Khúc thường qua lại để lao động sản xuất ở vùng bờ nam sông. Vào những buổi chiều tà khi ánh dương đỏ trên rặng Thạch Bích phía tây, soi bóng những con thuyền lờ lững qua sông, làm cho lòng người buồn man mác

7. Thạch Bích tà dương



Một cảnh đẹp hùng vĩ nên thơ nằm về phía đông nam huyện Sơn Hà giáp huyện Minh Long. Thạch Bích (Đá Vách) là một ngọn núi cao nổi tiếng của Quảng Ngãi, thế núi quanh co đứng cao chót vót, cây cối rậm rạp, vách đá dựng ngược, sắc đá màu ngọc lúc ráng chiều nên được gọi là Thạch Bích tà dương. Cảnh vật nơi đây thay đổi từng thời khắc trong ngày, đặc biệt là mỗi buổi chiều tà, khi vạn vật bắt đầu chìm vào bóng đêm thì trên đỉnh Thạch Bích vẫn còn sáng bừng ánh hoàng hôn, tạo nên một vẻ đẹp vừa oai hùng vừa thơ mộng.Quảng Ngãi có nước suối khoáng Thạch Bích rất nổi tiếng và tốt cho sức khỏe.Ngày còn nhỏ,mỗi khi được đi Minh Long là một chuyến đi thú vị nhất của tôi,gặp nhiều người bản địa mà tôi ít khi thấy,người dân tộc thiểu số và được ăn thịt rừng.

8. An Hải sa bàn

Vùng An Hải phía bắc cửa Sa Kỳ có núi thấp chạy sát mép biển bỗng dưng uốn cong tạo eo lõm vào đất liền. Vùng đất eo lõm này toàn là cát trắng phau. Mùa gió nồm đông thổi vào tạo nên lốc xoáy vun cát lên, đứng trên núi nhìn xuống trông giống hình dáng cái mâm cát khổng lồ rất đẹp.
9. Thạch cơ điếu tẩu

thachkydieutau

Thạch cơ điếu tẩu gồm hai quả núi đá tọa lạc trên cửa biển Sa Kỳ cách tỉnh lỵ 16 km về hướng đông bắc. Đó là một dãy đá thiên nhiên thẳng hàng, ở giữa có một tảng đá in hình hai dấu chân người, bên cạnh là một hang đá lộ thiên, mỗi khi sóng biển dội vào hang đá nước phun lên rất đẹp trông như lò nấu rượu. Trên một tảng đá có in hình một vết lõm trông giống như dấu bàn chân nên gọi là bàn chân khổng lồ. Truyền thuyết đó là dấu chân của ông khổng lồ gánh đất bị soạc chân, hai trạc đất rơi xuống tạo thành núi Hó (Thiên Ấn) và núi Bút (Thiên Bút). Ngoài mép nước một hòn đá đen nổi lên ở cửa biển trông như người ngồi câu giữa dòng nước gọi là Thạch cơ điếu tẩu (Ông câu trên ghềnh đá).

10. La Hà thạch trận

Thuộc thị trấn Tư Nghĩa, huyện Tư Nghĩa. Tương truyền rằng, lúc trong vùng còn hoang vắng, gió thổi qua đây gầm rất mạnh, tưởng như có cả một đoàn quân mai phục, nên gọi là La Hà thạch trận. Đây là 3 cụm núi đá liên hoàn: núi La Hà, núi đá Chẻ, núi Hùm. Do việc khai thác đá chưa được kiểm soát, nên ngày nay thắng cảnh này đã gần như hoàn toàn phế tích.Từ lúc tôi còn nhỏ thì núi La Hà đã là nơi khai thác đá granit để xây móng nhà rồi.Tôi cũng hay theo xe cha đến đây,lúc nào cũng nghe những ân thanh đùng đùng do người ta nổ mìn xẻ đá hoặc do người ta cho đá lên xe.

11. Vân Phong túc vũ

Vân Phong là tên một dãy núi cao thuộc hướng nam huyện Trà Bồng, và Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi (chính là dãy Cà Đăm). Đỉnh núi cao vút lên giữa lừng trời được bao bọc xung quanh bởi các dãy núi trùng điệp, nhìn từ xa trông ngọn núi rất tươi sáng. Nhìn về phía chót núi lúc nào cũng thấy mây bay dờn dợn bao phủ trông khí sắc giống như trời vào buổi tinh mơ hay sau khi mưa tạnh nên được gọi là Vân Phong túc vũ.

12. Vu Sơn lộc trường

Vu sơn là ngọn núi cao nằm về phía tây của huyện Bình Sơn. Nhìn từ xa ngọn núi như điểm phát mạch cho các dãy núi thấp hơn chạy về đồng bằng. Trên vùng triền núi phía tây có rừng cây rậm rạp tươi tốt là nơi hươu nai về tụ tập rất đông nên gọi là Vu Sơn lộc trường (Bãi nai ở núi Vu Sơn)..

 

 

Cảnh đẹp Quảng Ngãi (Chọn lọc theo VietNamTours1650)

Quảng Ngãi. The beauty of my home town.

Although I did not do much in Quảng Ngãi, I sure took a lot of pictures. Mainly of food, which was very entertaining to my family. But they really got into it and would help make the plate look better. My own food stylists! So I will break down my Quảng Ngãi post into two.

After an awful, sleepless night in Quy Nhơn (I had to sleep in the living room with my cousin and my uncle who is a very LOUD snorer while I am a very LIGHT sleeper), my cousin and I decided to leave a day early and go to Quảng Ngãi. Luckily, her boyfriend and his colleagues were driving home that day so we got to go back in a nice air conditioned car.

After about an hour driving, we stopped for lunch. Note I already had breakfast and coffee by now. I’m not used to eating three full meals a day but all this was about to change. We stopped for cơm gà, but this was not the typical cơm gà that I know (similar to Hainese chicken rice I think). It’s funny because as I was discussing cơm gà with my four lunch mates, everyone had an opinion on where the best was made and how the rice had to be sautéed first. Vietnamese are very passionate about food!

Interestingly, the Quảng Ngãi entry in Lonely Planet states that the province is “famous for a local delicacy called cơm gàm, which actually originates further north at Tam Ky. It consists of boiled chicken over yellow rice (the colour comes from being steamed with chicken broth)”. I saw a lot of cơm gà offered in Quảng Ngãi; unfortunately, I did not get a chance to eat it since I always seemed to be full.


We started lunch with canh cải – soup with greens.

 


This cơm gà consisted of plain white rice with a well seasoned chicken thigh. It was very good and there was a great dipping sauce. The green onion topping was cooked in oil and was yummy!

 

We continued our way back to Quảng Ngãi. My cousin made the driver stop in Sa Huỳnh so I could take pictures of the beach. I was also intrigued to see piles of salt nearby from salt marshes.

 


Beach in Sa Huỳnh.


I found this picture of the salt marsh in Sa Huỳnh on the internet that is much more representative than my pictures.


Pardon the blurry picture – this was taken from the train.

We got to my uncle’s in Quảng Ngãi, relaxed a bit and then it was dinner time! Of course! My cousins asked whether I preferred seafood or meat. I said seafood so we went to a seafood restaurant (Hai Long Vien). The group included my cousin D and his fiancée, my cousin V and her boyfriend and my cousin K.


Bánh tráng dipped in nước mắm seemed to be the complimentary snack at many restaurants.


Gỏi bắp chuối (banana flower salad), not as flavourful as my aunt’s on the previous night.


I asked to have the crab in a tamarind sauce since I had really enjoyed it with The Gastronomer. It was good but not as good as the soft shell crabs at Quán 94, and it’s much messier and much harder work!


Gói ốc (snails salad). As my dinner companions said, it was more of an onion salad with snails rather than a snail salad. The snails didn’t particularly do it for me either…


Tôm Mũ Ni. These funny-looking fellows are some type of shrimp-cross-with-lobsters that are fished nearby. We picked them alive from the tank. I should have taken a picture when they were alive. They were excellent – like little lobsters!

What else do my cousins (and I’m guessing people in Quảng Ngãi) do other than eat? Drink! Or a term that encompasses both: ăn nhậu. Vietnamese men seem to drink like frat boys: they binge! I was a bit nervous having to ride with my cousin afer I witnessed the number of beers he drank in a short amount of time. Their drink of choice is Heinekken and we also had to order more food to drink with!


My two male cousins are hidden. In the middle is my cousin and her boyfriend, and on the right is my cousin’s fiancée.


On my left is my cousin K.

Roasted eggplants.


Grilled pork ribs.

Another day, many other meals. In the morning, we met up with my cousin’s friend (who happens to be my mom’s childhood friend’s daughter) at a restaurant right across the street from my uncle’s. The day started out with cháo vịt (duck porridge or congee) for breakfast.


Cháo vịt.


Vịt (Duck). My cousin’s friend T asked about me not eating the skin. No, I’m a bad Vietnamese. I don’t eat fat. I only eat skin when it’s crispy!


My cousin V and her friend T. Notice they have their cell phones ready, a must for a Vietnamese!

To walk off some of the food I ate, I went for a short walk and took some pictures, some of which are a bit amusing.


Chickens just walk on the sidewalk like the rest of us.


No need for words. Too funny!


Quảng Ngãi may be small but it has a Gucci…!


This field was just behind a main street. I love the green!


I still think it’s cool to see bamboo “in the wild”.

Within the same block there were two ram bap (corn spring roll) vendors!!


I couldn’t resist buying half a portion of ram bap (8000 dong for a portion of 10) even though I knew my aunt was making some. You have to compare…


They also sell banh xeo. I realize that my mother’s unusual habit of adding beef to banh xeo stems from Quảng Ngãi!


This street was rather flooded after a rainstorm.


Pictures I liked around town.

Another funny picture…!
Dinner was a mishmosh of all sorts of things that we rolled in bánh tráng (rice paper). One thing about my family: we like to roll EVERYTHING in bánh tráng!! My aunt made ram bap probably because I mentioned it. She adds taro which makes it different. I really dug her peanut sauce. When I asked her how to make it, she said that for me it’s easy because I can buy peanut butter. I’m pretty sure hers, made out of actual peanuts, is better!

My aunt’s ram bap.

Nem chua (fermented pork) from Quy Nhon that has been stir fried.


Cha ca (fish patties).

You need some greens and herbs with your rolls!

After dinner, my cousin invited me to go have sinh tố (fruit shake) or coffee. I picked sinh tố. It was funny because we literally went out by a field and sat down in the dark. Lawns chairs and plastic tables were set up. There was minimal lighting.

My cousin and her boyfriend.


I got a sinh tố mãng cầu xiêm (sour sop). My favourite part was the toasted coconut on top; I’ve never had anything like it! It was crunchy and sweet! Hmm!!

 by Miss Adventure.

Beautiful Women in Science

Còn 3 tuần nữa là đến March Meeting, năm nay diễn ra tại Texas (http://www.aps.org/meetings/march/index.cfm), theo tin hành lang thì ngoài 7000 bài báo được giới thiệu trong hội thảo này, năm nay còn có thêm một mục nữa là …bình chọn ai là nhà vật lý hấp dẫn nhất.
Dưới đây là một số gương mặt được lọt vào vòng trong theo thứ tự..hấp dẫn dần dần.

1. Lisa Randall
Click the image to open in full size.
Current Occupation: Professor at Harvard University

Credentials: Ph.D. and B.A. from Harvard University. Check out her Harvard profile.

FYI, Randall is the gold standard. Firms would be lucky to land her. She’s cited everywhere, she’s been interviewed by Charlie Rose, and has been featured on many “Most Influential” lists, including Esquire, Time Magazine, Newsweek, and Rolling Stone.

Source: Physics and Physicists, Harvard

2. Elisabeth Rieper
Click the image to open in full size.
Current Occupation: Ph.D. Candidate at the National University of Singapore, Center for Quantum Technologies

Sources: NAS, Physics and Physicists

3. Janet Conrad
Click the image to open in full size.
Current Occupation: Professor at Massachusetts Institute of Technology (MIT).

Credentials: Ph.D. in Physics from Harvard University, M.Sc. from Oxford University, B.A. from Swarthmore College.

Interesting Fact: Conrad was the Columbia Distinguished Faculty Fellow in 2005. She received the Mayor’s Science Award for being a leading researcher in high-energy physics, testing an unproved hypothesis — whether tiny and invisible neutrinos have mass.

Sources: Physics and Physicists, Columbia, MIT

4. Kimberley Hall
Click the image to open in full size.
Current Occupation: Associate Professor at Dalhousie University, Ultrafast Quantum Control

Credentials: Ph.D. and M.S. from University of Toronto, B.Sc from University Western Ontario

Sources: Dalhousie, Physics and Physicists

5. Deborah Berebichez
Click the image to open in full size.
Current Occupation: Risk Analyst at Morgan Stanley spin-off MSCI Inc.

Credentials: Ph.D. in Physics from Stanford University

Interesting Facts: She’s the first Mexican woman to receive a Ph.D. in Physics from Stanford. She speaks five(5) languages and has been featured on CNN, Oprah, and Dr. Oz
Source: Physics and Physicists

6. Kim-Vy Tran
Click the image to open in full size.
Current Occupation: Assistant Professor of Astronomy at Texas A&M.

Credentials: Ph.D. and M.S. in Astronomy & Astrophysics, UC Santa Cruz, B.S. from University of Arizona.
Interesting Fact: She likes Classical Ballet and open water diving

Source: Kimvytran.org, Physics and Physicists

7. Sarah Kavassalis
Click the image to open in full size.

Current Occupation: Researcher at University of Toronto

Credentials: Degree in Physics from University of Toronto
Interesting Fact: She’s a blogger and she’s writing a book called “The Joy Of Cooking Spacetimes.”
Source: Physics and Physicists

8. Amy Mainzer
Click the image to open in full size.
Current Occupation: Works at the Jet Propulsion Laboratory, Astrophysics and Space Sciences Section.

Credentials: Ph.D. in Astronomy from UCLA, M.S. from California Institute of Technology, B.A. from Stanford University. Also, she held a research fellowship between 2001-2003 at NASA
Interesting Fact: Mainzer was featured throughout the History Channel series The Universe.
Sources: CIT, Physics and Physicists

 

By VietPhD

Light switch for Neurons

Moving microfluidics from the lab bench to the factory floor

As the United States seeks to reinvigorate its job market and move past economic recession, MIT News examines manufacturing’s role in the country’s economic future through this series on work at the Institute around manufacturing.

 

ImageThe Center for Polymer Microfabrication is designing processes for manufacturing microfluidic chips. Pictured here is a chip fabricated by the center’s tailor-made production machines.
Photo: Melinda Hale

In the not-too-distant future, plastic chips the size of flash cards may quickly and accurately diagnose diseases such as AIDS and cancer, as well as detect toxins and pathogens in the environment. Such lab-on-a-chip technology — known as microfluidics — works by flowing fluid such as blood through microscopic channels etched into a polymer’s surface. Scientists have devised ways to manipulate the flow at micro- and nanoscales to detect certain molecules or markers that signal disease.

Microfluidic devices have the potential to be fast, cheap and portable diagnostic tools. But for the most part, the technology hasn’t yet made it to the marketplace. While scientists have made successful prototypes in the laboratory, microfluidic devices — particularly for clinical use — have yet to be manufactured on a wider scale.

MIT’s David Hardt is working to move microfluidics from the lab to the factory. Hardt heads the Center for Polymer Microfabrication — a multidisciplinary research group funded by the Singapore-MIT Alliance — which is designing manufacturing processes for microfluidics from the ground up. The group is analyzing the behavior of polymers under factory conditions, building new tools and machines to make polymer-based chips at production levels, and designing quality-control processes to check a chip’s integrity at submicron scales — all while minimizing the cost of manufacturing.

“These are devices that people want to make by the millions, for a few pennies each,” says Hardt, the Ralph E. and Eloise F. Cross Professor of Mechanical Engineering at MIT. “The material cost is close to zero, there’s not enough plastic here to send a bill for. So you have to get the manufacturing cost down.”

Micromachines

Hardt and his colleagues found that in making microfluidic chips, many research groups and startups have adopted equipment mainly from the semiconductor industry. Hardt says this equipment — such as nano-indenting and bonding machines — is incredibly expensive, and was never designed to work on polymer-based materials. Instead, Hardt’s team looked for ways to design cheaper equipment that’s better suited to work with polymers.

The group focused on an imprinting technique called microembossing, in which a polymer is heated, then stamped with a pattern of tiny channels. In experiments with existing machines, the researchers discovered a flaw in the embossing process: When they tried to disengage the stamping tool from the cooled chip, much of the plastic ripped out with it.

To prevent embossing failures in a manufacturing setting, the team studied the interactions between the cooling polymer and the embossing tool, measuring the mechanical forces between the two. The researchers then used the measurements to build embossing machines specifically designed to minimize polymer “stickiness.” In experiments, the group found that the machines fabricated chips quickly and accurately, “at very low cost,” Hardt says. “In many cases it makes sense to build your own equipment for the task at hand,” he adds.

In addition to building microfluidic equipment, Hardt and his team are coming up with innovative quality-control techniques. Unlike automobile parts on an assembly line that can be quickly inspected with the naked eye, microfluidic chips carry tiny features, some of which can only be seen with a high-resolution microscope. Checking every feature on even one chip is a time-intensive exercise.

Hardt and his colleagues came up with a fast and reliable way to gauge the “health” of a chip’s production process. Instead of checking whether every channel on a chip has been embossed, the group added an extra feature — a tiny X — to the chip pattern. They designed the feature to be more difficult to emboss than the rest of the chip. Hardt says how sharply the X is stamped is a good indication of whether the rest of the chip has been rendered accurately. 

Jumpstarting an industry

The group’s ultimate goal is to change how manufacturing is done. Typically, an industry builds up its production processes gradually, making adjustments and improvements over time. Hardt says the semiconductor industry is a prime example of manufacturing’s iterative process.

“Now what they do in manufacturing is impossibly difficult, but it’s been a series of small incremental improvements over years,” Hardt says. “We’re trying to jumpstart that and not wait until industry identifies all these problems when they’re trying to make a product.”

The group is now investigating ways to design a “self-correcting factory” in which products are automatically tested. If the product doesn’t work, Hardt envisions the manufacturing process changing in response, adjusting settings on machines to correct the process. For example, the team is looking for ways to evaluate how fluid flows through a manufactured chip. The point at which two fluids mix within a chip should be exactly the same in every chip produced. If that mixing point drifts from chip to chip, Hardt and his colleagues have developed algorithms that adjust equipment to correct the drift.

Holger Becker, co-founder of Microfluidic ChipShop, a lab-on-a-chip production company in Jena, Germany, says the center’s research plays an important role in understanding the different processes involved in large-scale production of microfluidics.

“Most of the academic work in microfluidics concentrates on applications, and unfortunately only very few concentrate on the actual manufacturing technologies suited for industrialization,” Becker says. “David Hardt’s team takes a very holistic approach looking into all different process steps and the complete manufacturing process instead of individual technologies.”

“We’re at the stage where we’d like industry to know what we’re doing,” Hardt says. “We’ve been sort of laboring in the vineyard for years, and now we have this base, and it could get to the point where we’re ahead of the group.”

By MIT News

Institute faculty share prestigious neuroscience prize Ed Boyden and Feng Zhang awarded the Perl/UNC Neuroscience Prize

MIT faculty members Ed Boyden and Feng Zhang, along with Karl Deisseroth of Stanford University, have been awarded the Perl/UNC Neuroscience Prize for developing a way to control brain activity using light. The Perl prize carries a $10,000 award and is given annually to recognize a seminal achievement in neuroscience. Four of the 12 past recipients were later awarded Nobel Prizes.

Boyden, Zhang and Deisseroth share the 2012 Perl prize for developing a technology known as “optogenetics,” in which neurons are genetically engineered to respond to light. This allows researchers to control the activity of specific cell types with great precision, and to probe the brain’s intricate circuits in ways that would have been unimaginable a few years ago. Optogenetics has already led to major advances in basic neuroscience, and the method has great promise for understanding and potentially for treating a wide range of brain disorders.

Boyden is a faculty member in the MIT Media Lab and an investigator at the McGovern Institute for Brain Research. Zhang is also a McGovern Investigator, with a joint appointment in the Department of Brain and Cognitive Sciences and at the Broad Institute.

Zhang and Boyden will deliver their prize lectures at the University of North Carolina at Chapel Hill on Sept. 20.

By MIT news

Những điều thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của Andre Geim ( Noble Physics 2010)

Tìm hiểu về nhân vật Andre Geim cũng có nhiều điều thú vị và đáng học hỏi. Ví dụ như ông ấy tốt nghiệp PhD năm 1987, sau 5 năm tại viện vật lý chất rắn của Nga, với kết quả là 5 bài báo. Nhưng cả 5 bài báo đó và thesis của ông đều không được ai cite cả, chỉ đồng tác giả trích dấn 2 lần. Sau thất bại về việc chọn đề tại và làm trong một lĩnh vực vật lý đã bão hòa, Andre Geim nhận thấy cần phải thảy đổi, tách rời khỏi giáo sư hướng dẫn, chuyển sang một lĩnh vực vật lý mới, liên quan đến màng kim loại và siêu dẫn. Thời gian hậu tiến sĩ của ông ở viện vi điện tử, cũng thuộc Nga và đại học Bath những năm đầu 90 có lẽ là bước ngoặc trong sự nghiệp của mình. Chính từ thất bại trong quá trình học PhD, ông nhận thấy cần phải thiết lập những thí nghiệm mới, thay vị quanh quẩn tìm những hiện tượng lạ dựa trên các thí nghiệm đã có sẵn. Thời gian sau tốt nghiệp tiến sĩ của ông cũng chả sáng sủa gì, ở độ tuổi 33 với chỉ số H-index bằng 1, nên ông chỉ tìm cơ hội postdoc ở những trung tâm vừa và nhỏ ngoài Nga. Tuy vậy việc đến nhiều trung tâm khác nhau như Nottingham, Copenhagen, Bath và trở lại Nottingham, đã giúp ông tiếp cận với nhiều nhánh khác nhau của vật lý, như nghiên cứu về hệ khí electron 2 chiều, hay các điểm quantum point, hiện tượng chui hầm lượng tử hay hiệu ứng Hall lượng tử. Đây cũng là giai đoạn ông được tiếp xúc với các kĩ thuật như molecular beam epitaxy, hay electron beam lithography.

 

Sau 4 năm postdoc, ông được nhận chân phó giáo sư tại đại học Nijmegen của Hà Lan. Tuy đây không phải là trường lớn của Hà Lan nhưng điều kiện và môi trường khoa học vẫn tốt hơn so với Nga. Lĩnh vực ông nghiên cứu khi đó là mesoscopic superconductivity, ông bắt đầu xây dựng hệ thí nghiệm mới, và cũng có kết quả tốt được đăng trên Nature và Physical Review Letters. Vợ của ông là tiến sĩ vật lý, nhưng không xin được việc tại Hà Lan giai đoạn đó, nên phần lớn ở nhà chăm con gái và giúp chồng phân tích số liệu. Cũng phải nói Hà Lan và Đức là nơi có các trung tâm nghiên cứu về từ/từ giảo khổng lồ/siêu dẫn vào loại nhất nhì trên thế giới. Đại học Nijmegen của ông tuy không nổi tiếng nhưng lại là nơi có phòng thí nghiệm từ trường có cường độ lên tới 20 T, khá cạnh tranh trong giai đoạn đó ( từ trường trái đất vào khoảng 0.00005 Tesla). Trong khi các thí nghiệm của ông thường chỉ vào khoảng 0.01 T, và giá điện cũng cao nên giai đoạn đầu về trường ông cũng không sử dụng phòng thí nghiệm hết công suất.

 

Trước và sau quá trình làm postdoc, ông cũng đã thử một vài thí nghiệm liên quan đến từ tính của nước, nhưng kết quả không được sáng sủa. Nhưng khi được sở hữu một phòng thí nghiệm có từ trường lên đến 20 T, đó là lúc các ý tưởng của ông được lật lại. Và trong một buổi tối thứ 6, ông đã bật máy từ lên tới công suất cực đại rồi ” nghịch dại”, té nước vào thiết bị để thỏa chí tò mò. Thông thường, đây là một cách nghịch rất dại, và chả một vị phó giáo sư nào lại làm thí nghiệm thiếu chuyên nghiệp như vậy cả. Quan sát thí thấy nước không rơi xuống dưới sàn nhà mà đọng lại lơ lửng trong máy. Từ tính của nước vào khoảng 1 tỷ lần nhỏ hơn so với sắt nhưng với từ trường lên đến 20T đã giúp các giọt nước được lơ lửng trong máy, thắng được lực hút của trái đất. Các giọt nước có đường kính lên đến 5 cm được lơ lửng giữa ( không trung) thiết bị, đó là lúc nhiều suy nghĩ hiếu kì khác của ông được nảy sinh. Thí nghiệm được nhận giải 2000 Ig Nobel Prize ( Nobel khờ khạo), cũng bắt nguồn từ đó, tưởng tượng nếu giọt nước lớn tới vài cm lơ lửng được thí nó cũng có thể giúp cho nhiều loại vật, côn trùng và ếch nhái lơ lửng trong chân không mà không cần đến luyện tập khí công. Cũng phải nói, để giải thích hiện tượng lơ lửng của nước kia, ông đã cần đến một bậc thầy vật lý khác là Sir Micheal Berry ( đại học Bristol).

 

Nghiên cứu sinh đầu tiên của Andre Geim là Kostya Novoselov, tham gia vào nhóm của ông năm 1999. Trong giai đoạn từ lúc tốt nghiệp tiến sĩ đến năm 1999, ông đã thử rất nhiều thí nghiệm tinh nghịch khác nhau, tổng kết lại cũng vào khoảng trên 20 thí nghiệm, mà phần lớn là thất bại, nhưng có một vài thí nghiệm khá thú vị, kiểu như chú ếch bay ở trên, đến màng dính thạch thùng gecko, và tất nhiên phải kể đến graphene ( giúp ông và học trò nhận giải Nobel năm vừa rồi).

 

Nghiên cứu về graphene và con đường dẫn tới giải Nobel vật lý của hai thầy trò chỉ bắt đầu vào năm 2000, khi ông đến làm việc tại đại học Manchester với vị trí full professor. Khi đó ông có trong tay hơn 4 bài trên Nature và Physical Review Letter, liên quan phần nhiền đến hiện tượng siêu dẫn mesoscopic, và levitation. Với profile như trên ông cũng có được một số trung tâm danh giá mời về làm việc nhưng việc chọn U of M phần nhiều vì tại đây vợ ông có cơ hội được làm việc academic cùng với ông. Giai đoạn 3 năm đầu tại U of M ông đã xây dựng mọi thứ từ đầu, với số tại trợ ít ỏi, nhưng tăng dần mỗi năm, và kết quả thu được cũng khá đáng nể, hơn 5 bài trên Nature, Nature Materials và PRL. Tài trợ của EPSRC cho nhóm của ông lên tới gần £2 M trong giai đoạn đó, nên khá ông đã xây dựng được một nhóm khá productive về lĩnh vực Mesocience, nanotechnology.

 

Andre Geim là người có nhiều ý tưởng nhưng chưa mạo hiểm đến nỗi đưa các ý tưởng đó cho lớp nghiên cứu sinh của mình tại Manchester. Ba hướng nghiên cứu của ông trong giai đoạn này là về điện tử kim loại, ống nano carbon và hợp chất graphite ( tiền thân của graphene, nhiều lớp nguyên tử ).Cậu học trò người Trung Quốc đầu tiên của ông tại U of M là Da Jiang tốt nghiệp sớm quá, trước khi những ý tưởng hay nhất về graphene của ông được thực hiện. Giai đoạn đầu Da Jiang cũng làm về graphite ( nhiều lớp nguyên tử ), nhưng kết quả không được như ý, màng graphite với độ dầy vài chục micro và không có các đặc tính nổi bật. Trong giai đoạn làm việc với nhóm của Oleg Shklyarevskii,thuộc Kharkov, Ukraine, chuyên gia về lĩnh vực scanning tunneling microscopy. Thông thường các tệp dính chỉ dùng để bạo vễ vác mẫu thí nghiệm, sau đó bỏ đi, trong trường hợp này là HOPG, ( một loại graphite), nhưng vì tính tò mò nên Andre Geim đã kiểm tra xem có gì trên lớp dính đó. Kết quả ngạc nhiên đó là các lớp màng mỏng hơn nhiều so với những gì mà học trò của ông là Da Jiang hì hục làm bằng máy trước đó. Đây cũng chính là lúc ông bắt đầu dồn sức vào hướng nghiên cứu thứ ba ( hợp chất graphite). Khi còn là nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, ông làm việc 100 tiếng một tuần, nhưng nó không thấm vào đâu so với giai đoạn này, cả nhóm của ông làm việc 24 x 7 , trong vài tháng để tạo ra hơn 50 mẫu thiết bị khác nhau. Cuối năm 2003, ông bắt đầu gửi kết quả đầu tiên dưới dạng manuscript tới Nature, và bị reject. Ông điều chỉnh lại và cung cấp số liệu tốt hơn, nhưng cũng vẫn bị reject với lý do ” not constitute a sufficient scienctific advance”. Về sau ông gửi kết quả lên Science và được chấp nhận, đây cũng là lúc cộng động biết đến kết quả của ông một cách rộng rãi, và giải thưởng Nobel 2010 ghi nhận công trinh và kết quả từ bài báo trên Science kia.

 

Tóm lại, có vài điểm thú vị về nhân vật Andre Geim này, ví dụ như

 

1. Đề tại trong PhD và kết quả trong giai đoạn PhD của ông không có gì nổi bật, nếu không nói là tối, với 5 bài báo mà chỉ có 2 lần được trích dẫn.

 

2. Giai đoạn làm postdoc của ông thường làm việc 100 tiếng mỗi tuần, di chuyển tới 4 trung tâm khác nhau, sau 4 năm mới có được một ví trí cố định ở một trường nho nhỏ của Hà Lan.

 

3. Ông là người khá táo bạo và hay nghịch dại, trong vòng vài năm mà làm hơn 20 thí nghiệm ” linh tinh ” khác nhau. Các thí nghiệm này đều ngắn hạn, chỉ vài tháng nhưng ở nhiều hệ vật lý khác nhau.

 

4. Ông là người sáng tạo và làm việc khá productive, trong 6 tháng ngắn ngủi ở Nottingham mà cũng có 2 bài trên PRL.

 

5. Sau quá trình postdoc có kết quả tốt trên Nature, PRL, được một số trung tâm danh tiếng mời về nhưng ông chọn Manchester U(niversity) vì… thương vợ.

 

6. Quan điểm và cách làm việc của ông là nên thử nhiều lĩnh vực khách nhau, thay vì tìm các hiện tượng lạ trong hệ vật lý có sẵn thì xây dựng các hệ vật lý và thí nghiệm mới, tuy mạo hiểm nhưng kết quả đem lại sẽ có phần reward hơn.

 

7. P/S ” Đừng nghịch dại té nước vào thiết bị thí nghiệm như ông đã làm “

 

 

By VietPhD

Phát minh vĩ đại của nhà khoa học là diễn viên Hollywood

Hedy Lamarr (9/11/1913-19/1/2000), không chỉ là một ngôi sao Hollywood, một trong những người phụ nữ đẹp nhất thế giới mà cô còn là một nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực công nghệ viễn thông hiện đại.

Tài năng sớm tỏa sáng

Lamarr là người con gái duy nhất trong một gia đình gốc Do Thái về sau cải đạo theo Công giáo, sinh ra tại Vienna, Áo. Mẹ là nghệ sĩ dương cầm, còn cha là một giám đốc ngân hàng. Nhưng sau đó cha cô đã mất trong một vụ thảm sát.

Cô theo học múa ba lê và piano từ năm 10 tuổi. Chằng bao lâu cô gái tuổi teen Hedy Lamarr đã đóng vai chính trong các bộ phim của Đức Quốc xã cùng với các diễn viên nổi tiếng Heinz Rühmann và Hans Moser.

 

Nhà khoa học đẹp
Nhà khoa học đồng thời là diẽn viên Hollywood

Sau bộ phim tai tiếng Gustav Machatý Ecstasy, một bộ phim Tiệp Khắc ở Prague, mà Hedy Lamarr đóng vai một người vợ trẻ yêu chồng già cuồng nhiệt với các cảnh quay chạy khỏa thân trong rừng, cô dường như càng được biết đến nhiều hơn.

Sau khi sang Mỹ, cô đã ký hợp đồng và trở thành một ngôi sao Hollywood có tầm cỡ trong thời đại hoàng kim của hãng điện ảnh MGM và tham gia vai diễn trong nhiều bộ phim cực kỳ ăn khách.

Cuộc đời lắm truân chuyên

Hedy Lamarr kết hôn khá sớm vào năm 1933, lúc cô mới 19 tuổi, với Friedrich Mandl, một trùm sản xuất vũ khí có trụ sở tại Vienna. Chồng cô thường làm ăn với các nhà độc tài phát xít Đức Quốc xã và Ý như Adolf Hitler và Benito Mussolini. Mandl có tính ghen điên cuồng, thường không muốn cho vợ đi đâu ra ngoài, thậm chí còn ngăn cản sự nghiệp diễn viên của Hedy Lamarr. Cô buộc phải thường đi bên cạnh chồng làm món quà ‘xã giao’ trong những phi vụ làm ăn của Mandl.

Nhân một bữa tiệc, Hedy Lamarr đã cải trang và chốn thoát sang Paris, rồi London và cuối cùng là sang Mỹ vào năm 1938. Qua nhiều năm theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật, cô cảm thấy mệt mỏi, cô quết định thôi không làm người của công chúng và định cư tại Miami Beach, Florida vào năm 1981.

Sau khi ly hôn người chồng ‘trùm vũ khí’, Hedy Lamarr đã kết hôn tới 5 lần nữa, có được 3 người con. Những năm về sau, Lamarr đã dính vào những vụ scandal và bị bắt mấy lần do tội ăn trộm đồ. Cô qua đời vào năm 2000.

Nhưng…là một thiên tài khoa học

Trong những lần đi cùng với Friedrich Mandl, qua những lần nghe trao đổi về buôn bán vũ khí, Hedy Lamarr đã đặc biệt quan tâm tới ngư lôi, nhất là việc điều khiển ngư lôi. Hedy Lamarr đã trao đổi ý tưởng của mình với một người bạn là nhà soạn nhạc George Antheil, đồng thời là hàng xóm của Hedy.

Sau khi George Antheil phát hiện ra cách chơi nhiều đàn Piano cùng một lúc, Hedy Lamarr đã cùng với ông vận dụng kỹ thuật chơi đàn sang điều khiển ngư lôi. Thay vì thay đổi phím đàn, giờ đây cùng lúc thay đổi tần số vô tuyến của hệ thống điều khiển, như vậy quân địch không thể phong tỏa, và cùng một lúc có thể điều khiển nhiều ngư lôi từ xa.

Quyến rũ
Vẻ quyến rũ làm say lòng người

Hedy Lamarr và Antheil bắt đầu tìm cách cụ thể hóa ý tưởng của mình và nộp bằng sáng chế về ý tưởng của mình. Sáng chế đã được Hải quân Mỹ sử dụng cho đến năm 1962, khi dùng các tàu quân phong tỏa Cuba.

Đặc biệt, sáng chế Hedy Lamarr và Antheil dựa trên sự thay đổi tần số để điều khiển ngư lôi còn làm tiền đề để phát triển thông tin liên lạc và công nghệ viễn thông được sử dụng cho điện thoại di động, GPS, Wi-Fi ngày nay.

 

Theo Bee.net.vn

Design a site like this with WordPress.com
Get started